Báo chí

Thời gian là vàng

Thời tiết, giá vàng, ngoại tệ

Trượt thanh công cụ để xem tỉ giá:

Tài nguyên dạy học

Thành viên trực tuyến

1 khách và 0 thành viên

cảm nhận nhân vật, đoạn thơ HKI

Chức năng chính 1

Chức năng chính 2

Gốc > ôn tập thi giữa học kì I > ôn tập truyện trung đại >

ôn tập truyện trung đại

Luyện tập củng cố kiến thức bài " Kiều ở lầu Ngưng Bích"

Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du viết:

Tưởng người dưới nguyệt chén đồng,

Tin sương luống những rày trông mai chờ.

a. Chép chính xác 6 câu thơ tiếp theo sau hai câu thơ trên. ( chú ý hình thức lục bát và dấu câu)

                              Bên trời góc bể bơ vơ,

                        Tấm son gột rửa bao giờ cho phai.

                               Xót người tựa cửa hôm mai,

                       Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ?

                              Sân Lai cách mấy nắng mưa,

                       Có khi gốc tử đã vừa người ôm.

                                           ( Truyện Kiều, Nguyễn Du)

 

b. Nêu ngắn gọn giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ vừa chép. Giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn trích:

+ Về nội dung :

Đoạn trích diễn tả nỗi thương nhớ Kim Trọng và thương nhớ cha mẹ  của Thúy Kiều, qua đó ca ngợi sự  thuỷ chung, hiếu thảo và tấm lòng vị tha ở nàng.

+ Về nghệ thuật :

Nghệ thuật khắc hoạ nội tâm nhân vật qua ngôn ngữ độc thoại nội tâm đặc sắc, miêu tả tâm trạng tinh tế  để Kiều nhớ Kim Trọng trước khi nhớ cha mẹ phù hợp với quy luật tâm lí do hoàn cảnh tác động, vận dụng điển tích, điển cố với những hình ảnh ẩn dụ sinh động, gợi cảm xúc. 

c. Em hiểu từ “chén đồng” trong đoạn thơ trên như thế nào? Theo em, có thể thay từ “ tưởng” bằng từ “ nhớ” được không? 

- Chén đồng: Chén rượu thề nguyền cùng lòng cùng dạ (đồng tâm) với nhau. 

 

- Không thể thay từ “ tưởng ” bằng từ “ nhớ” bởi nghĩa từ “ tưởng” vừa là nhớ thương vừa là hình dung cảnh Kim Trọng đang chờ mong tin Kiều. 

d. Dựa vào đoạn trích trên và những hiểu biết về xã hội của mình, hãy trình bày ngắn gọn    ( từ 3-5 câu) suy nghĩ của  em về đạo làm con. 

Đạo làm con là một trong những đạo lí tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Đạo làm con được hiểu là bổn phận trách nhiệm của con cái đối với cha mẹ. Bởi công lao nuôi dưỡng sinh thành của cha mẹ như trời biển nên người con phải biết hiếu thuận, chăm sóc, phụng dưỡng khi cha mẹ ốm đau, già yếu, sống tốt đẹp, phục vụ đất nước, xã hội, gia đình cho cha mẹ hãnh diện, vui lòng. Trái ngược với lòng hiếu thảo là sự bất hiếu, lối sống này luôn bị xã hội lên án, phê phán. Là học sinh, chúng ta cần phải...

Ôn tập đoạn trích Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga:

Câu hỏi thực hành:

Trong Truyện Lục Vân Tiên, Nguyễn Đình Chiểu viết:

                    Gẫm câu báo đức thù công, 
                         Lấy chi cho phỉ tấm lòng cùng ngươi...

a. Chép chính xác 6 câu thơ tiếp theo sau hai câu thơ trên.

Vân Tiên nghe nói liền cười: 
"Làm ơn há dễ trông người trả ơn. 
Nay đà rõ đặng nguồn cơn, 
Nào ai tính thiệt so hơn làm gì 
Nhớ câu kiến nghĩa bất vi, 
Làm người thế ấy cũng phi anh hùng.” 

 

        (Truyện  Lục Vân Tiên, Nguyễn Đình Chiểu)

b. Từ (tấm) lòng trong đoạn trích được dùng theo nghĩa gốc hay nghĩa chuyển? Hãy tìm 4 từ ngữ được cấu tạo theo mô hình phi + x  như phi anh hùng 

Từ  lòng là từ mang nghĩa chuyển 

 

Phi+ x:  phi quân sự, phi lí, phi giai cấp, phi nhân đạo, phi nghĩa...

c. Nhân vật Lục Vân Tiên nổi bật những phẩm chất tốt đẹp nào trong đoạn thơ trên? 

 

-Lục Vân Tiên là một chàng trai nghĩa hiệp, dũng cảm, trọng nghĩa khinh tài, không so đo tính toán thiệt hơn; sống theo lí tưởng của người anh hùng xem việc giúp người là trách nhiệm, không mong đợi được báo đáp 

 

d. Từ quan điểm của Lục Vân Tiên trong hai câu thơ cuối và suy nghĩ, trải nghiệm của bản thân, hãy trình bày ngắn gọn (từ 3-5 câu) quan niệm về người anh hùng. 

" Nhớ câu kiến nghĩa bất vi,

Làm người thế ấy cũng phi anh hùng"

 Lời nói của Lục Vân Tiên trong đoạn trích " Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga" vẫn giống với quan điểm ngày nay về người anh hùng. Đó là người có tài năng, đức độ hơn người, sống với tinh thần nghĩa hiệp, dũng cảm bảo vệ người sức yếu thế cô, biết đấu tranh cho lẽ phải, công bằng, sẵn sàng hi sinh vì nghĩa lớn. Các bậc anh hùng từ xưa đến nay luôn được ca ngợi, trân trọng như ... Trái với lối sống cao đẹp của người anh hùng là lối sống của kẻ tiểu nhân, xã hội luôn chê trách, phê phán những kẻ hèn nhát, chỉ nghĩ đến bản thân, không quan tâm chia sẻ , giúp đỡ người hoạn nạn, khó khăn, không dám đấu tranh trước cái ác, cái xấu. Ngày nay ... ( tự liên hệ)

Ôn tập về đoạn trích " Cảnh ngày xuân"

Câu hỏi thực hành:

a. Chép chính xác 6 câu thơ  cuối trong đoạn  trích Cảnh ngày xuân (Truyện Kiều , Nguyễn Du). 

      Tà tà bóng ngả về tây,

Chị em thơ thẩn dan tay ra về.

    Bước dần theo ngọn tiểu khê,

Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh.

   Nao nao dòng nước uốn quanh,

Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang.

 

                   ( Trích Truyện Kiều, Nguyễn Du)

b. Xác định những phương thức biểu đạt và cho biết  nội dung chính đoạn thơ vừa chép. 

Những phương thức biểu đạt: tự sự, miêu tả, biểu cảm

           Nội dung chính của đoạn trích : Cảnh chị em Kiều du xuân trở về

c. Tìm những từ láy có trong đoạn thơ và nêu tác dụng của chúng 

- Từ láy: tà tà, thơ thẩn, thanh thanh, nao nao, nho nhỏ 

- Tác dụng của những từ láy trên: vừa có tác dụng gợi hình ảnh sinh động, cụ thể  nét thanh dịu, nhẹ nhàng của cảnh chiều xuân vừa gợi tâm trạng nhân vật bâng khuâng, lưu luyến chuyến du xuân và dự cảm một chuyện sắp xảy ra.

 

d. “ Cảnh ngày xuân” là một đoạn trích tiêu biểu cho sự giàu đẹp của Tiếng Việt. Học tập Nguyễn Du, em hãy suy nghĩ  học sinh cần phải làm gì để giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt ( viết khoảng 3 đến 5 câu)?  

"Ngôn ngữ trong " Truyện Kiều" đã thể hiện sự giàu đẹp của Tiếng Việt. Học tập Nguyễn Du, học sinh chúng ta cần thường xuyên trau dồi vốn từ, nắm vững nghĩa của từ và dùng chính xác, biết thêm những từ ngữ chưa biết. Chúng ta cần ý thức chọn lời hay ý đẹp khi giao tiếp, đọc nhiều tác phẩm, sách báo . Cần phê phán  những kẻ nói năng thô tục, lạm dụng tiếng nước ngoài, nói tắt, viết tắt đến tối nghĩa làm giảm đi sự giàu đẹp của Tiếng Việt ( thêm một câu liên hệ ...)

Rèn luyện kỹ năng cảm thụ tác phẩm văn học:

THỰC HÀNH:

1/ CẢM NHẬN TÍNH CÁCH QUANG TRUNG QUA LỜI PHỦ DỤ ( HỒI 14 - HOÀNG LÊ NHẤT THỐNG CHÍ)

I. MỞ BÀI:

 Hồi 14 tác phẩm " Hoàng Lê nhất thống chí"của  Ngô gia văn phái có kể lại việc vua Quang Trung phủ dụ tướng sĩ nhằm khích lệ tinh thần yêu nước, quyết tâm đánh đuổi quân Thanh. Nhưng qua lời phủ dụ, chúng ta còn cảm nhận được phẩm chất tốt đẹp của vị vua tài ba lỗi lạc này ...

II. THÂN BÀI:

 Cách lập luận trong lời phủ dụ rất chặt chẽ, mạch lạc chứng tỏ vua Quang Trung là người có trí tuệ sáng suốt, nhạy bén. Nội dung lập luận đi từ khẳng định chủ quyền dân tộc " đất nào sao ấy,đều đã phân biệt rõ ràng, phương Nam, phương Bắc chia nhau mà cai trị", lên án tội ác quân thù " Từ đời nhà Hán, chúng đã mấy phen cướp bóc nước ta, giết hại nhân dân, vơ vét của cải" khơi dậy niềm tự hào dân tộc qua những chiến công hiển hách của các anh hùng dân tộc " Đời Hán có Trưng Nữ Vương, đời Tống có Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, đời Nguyên có Trần Hưng Đạo...", kêu gọi đoàn kết chiến đấu " đồng tâm hiệp lực" và đề ra kỉ luật nghiêm minh " chớ quen thói cũ, ăn ở hai lòng... giết chết ngay tức khắc". Bố cục đó đầy sức thuyết phục khiến cho tướng sĩ ý thức được trách nhiệm cứu nước,  và có niềm tin vào  chiến thắng, tăng thêm sĩ khí chiến đấu. Điều này chứng minh Quang Trung là một trong những vị vua có tài thuyết giáo, thu phục nhân tâm, là vị anh hùng dũng cảm, tự tin vào sức mình, có điều binh khiển tướng, biết dựa vào sức mạnh đoàn kết để chiến thắng.

Nhưng hơn tất cả, lời phủ dụ đã toát lên tình yêu nước, thương dân cao cả ở vị anh hùng dân tộc Quang Trung- Nguyễn Huệ. Ngài không thể để đất nước do cha ông gầy dựng rơi vào tay giặc, không thể để nhân dân sống lầm than dưới ách đô hộ của bọn ngoại xâm. Tinh thần yêu nước còn bộc lộ ở niềm tự hào dân tộc với lịch sử đấu tranh giữ nước của cha ông nên đã quyết tâm lãnh đạo nhân dân chiến đấu dù lực lượng quân Thanh có đến hơn hai mươi vạn. Lời phủ dụ của Quang Trung tiếp nối âm hưởng của lòng yêu nước, thương dân, quyết tâm chống giặc ngoại xâm trong  bài " Nam quốc sơn hà", " Hịch tướng sĩ", " Bình Ngô đại cáo" lưu danh muôn đời

III. KẾT BÀI:

 

2/ CẢM NHẬN ĐOẠN TRÍCH CẢNH NGÀY XUÂN:

I. MỞ BÀI:

C1: Đoạn trích " Cảnh ngày xuân" ( thuộc " Truyện Kiều" của Nguyễn Du) kể về việc chị em du xuân trong tiết Thanh Minh. Có thể nói bốn câu đầu của đoạn trích là tuyệt bút của Nguyễn Du khi miêu tả cảnh mùa xuân.

 

II. THÂN BÀI:

Hai câu thơ đầu đoạn trích " Cảnh ngày xuân" vừa  gợi tả không gian mùa xuân vừa thông báo thời gian:

Ngày xuân con én đưa thoi,

Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi.

Bức tranh xuân mở ra với hình ảnh   bầu trời cao rộng  có những đàn chim én bay liệng. Hình ảnh " con én đưa thoi"  vừa tạo nên sự sinh động, có hồn cho cảnh vật vừa gợi lên dòng chảy của thời gian trôi qua  nhanh. Mùa xuân có " chín mươi ngày" và nay đã ngoài sáu mươi, đang ở thời điểm tháng ba. Từ " thiều quang" gợi tả sắc trời tươi sáng,tiết trời ấm áp trong lành. Một  cảm xúc nuối tiếc thoáng qua  khi  tác giả cảm nhận mùa xuân sắp nhường chỗ cho mùa hạ oi nồng, rực rỡ. Đó là trạng thái tâm lí lưu luyến vấn vương của những tâm hồn thi nhân yêu vẻ đẹp thiên nhiên.

Trong ánh mắt tinh tế  của nhà thơ Nguyễn Du, mùa xuân ở tháng ba vẫn còn đẹp lắm. Xuân vẫn ánh lên sắc trong trẻo,  tươi nguyên làm ngây ngất lòng người:

Cỏ non xanh tận chân trời,

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.

Có thể nói hai câu thơ trên là tuyệt bút của Nguyễn Du khi miêu tả cảnh ngày xuân. Nền của bức tranh là một màu xanh non của cỏ trải dài đến tận chân trời . Trên nền xanh dịu mát  điểm xuyết một vài hoa lê trắng . Bức tranh xuân của Nguyễn Du có xa và gần, cao và thấp, có động và tĩnh, màu sắc hài hòa, đường nét thanh tú, gợi sự thơ mộng duyên dáng của mùa xuân. Chất " thi trung hữu họa" đã đạt mức tuyệt diệu.

Trong thơ cổ Trung Quốc cũng có hình ảnh ước lệ :

Phương thảo liên thiên bích

Lê chi sổ điểm hoa

( Cỏ thơm liền với trời xanh

Trên cành lê có mấy bông hoa)

Chọn những hình ảnh cỏ, trời, hoa lê đã là tinh tế . Cỏ mang sức sống mãnh liệt của mùa xuân, còn cây  lê  hé nụ vào tiết Xuân phân, đến tiết Thanh Minh thì nở hoa trắng muốt vừa gợi tả  được cảnh xuân vừa gợi mốc  thời gian tháng ba. Dù học tập thơ cổ, nhưng ngòi bút nghệ thuật miêu tả của Nguyễn Du đã vượt trội hơn với sự sáng tạo đặc sắc. Nếu thơ cổ như một bức tranh tĩnh chỉ có hình ảnh, thì Nguyễn Du đã thổi hồn vào cảnh vật qua cách diễn Nôm tài tình. Chữ " tận" mở ra một không gian mênh mông, bát ngát . Cụm từ " non xanh" gợi tả sức sống mơn mởn,mới mẻ của mùa xuân. Đặc sắc nhất là đảo ngữ " trắng điểm" tạo sự sống động, vừa làm nổi bật màu trắng tinh khôi thanh khiết của hoa lê, vừa đem lại cái hồn cho cảnh vật. Đọc bốn  câu thơ tả cảnh xuân của Nguyễn Du, ta có cảm nhận vạn vật đang vận động, cỏ đang lớn, hoa đang nở, én đang bay...Tài năng của một đại thi hào dân tộc là thế.

III. Kết bài:

3/ Cảm nhận vẻ đẹp phẩm chất của Vũ Nương:

* Mở bài:

C1: Vũ Nương là nhân vật chính trong " Chuyện người con gái Nam Xương" của Nguyễn Dữ. Những phẩm chất tốt đẹp của Vũ Nương gợi bao cảm xúc yêu thương, trân trọng ở người đọc.

C2: " Chuyện người con gái Nam Xương" là truyện thứ mười sáu trong " Truyền kì mạn lục", dựa trên cốt truyện cổ tích Việt Nam " Vợ chàng Trương". Nhân vật Vũ Nương để lại ấn tượng sâu sắc ở người đọc về những phẩm chất tốt đẹp.

* Thân bài:

1. Mở đầu truyện, nhà văn đã giới thiệu trực tiếp nhân vật Vũ Nương “ thùy mị nết na, tư dung tốt đẹp”.Đó  vẻ đẹp hoàn hảo đạt đến mức lí tưởng trong mọi thời đại.

2. Ngòi bút Nguyễn Dữ tập trung phác họa vẻ đẹp tâm hồn của Vũ Nương ở bốn hoàn cảnh cụ thể:

- Trong cuộc sống vợ chồng:  Nàng là người vợ hiền thục, luôn giữ gìn hạnh phúc gia đình. Biết tính chồng đa nghi, phòng ngừa quá sức, nàng “giữ gìn khuôn phép” , không để gia đình phải đến “thất hòa”

- Lời tiễn chồng đi lính thể hiện tấm lòng yêu thương chồng, lo cho an nguy của chồng nơi chiến trường hơn là vinh hoa phú quý, “chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên”. Đã thế, Vũ Nương còn có sự đồng cảm sâu sắc với những khó khăn, gian khổ mà chồng sẽ phải trải qua nơi chiến trường khi “ giặc cuồng còn lẩn lút, quân triều còn gian lao,rồi  thế chẻ tre chưa có’.

- Lúc chồng xa nhà, tình yêu thương chồng, tâm trạng nhớ nhung của một chinh phụ được miêu tả sinh động với lời văn biền ngẫu, hình ảnh ước lệ khắc sâu hơn vẻ đẹp tâm hồn của Vũ Nương – điều mà truyện cổ tích Vợ chàng Trương không có. Đó là nỗi buồn thương, trông đợi kéo dài theo thời gian, không gian xa cách “ mỗi khi thấy bướm lượn đầy vườn, mây che kín núi thì nỗi buồn góc bể chân trời không thể nào ngăn được”. Đoạn văn đã diễn đạt tình nghĩa sâu  sắc của nàng dành cho chồng.

 

 

- Cũng trong khoảng thời gian Trương Sinh đi lính, Vũ Nương đã đảm đang gánh vác giang sơn nhà chồng, một mình nàng phụng dưỡng mẹ chồng, nuôi dạy con thơ. Tấm lòng hiếu thảo của nàng thật đáng trân trọng. Mẹ chồng lâm bệnh vì thương nhớ Trương Sinh, nàng đã lo thuốc thang, lễ bái thần phật, lựa lời khuyên lơn mẹ chồng. Mẹ chồng nàng cũng cảm nhận được tấm lòng chân thành đó nên đã chúc phúc cho nàng trước khi lâm chung: “ Xanh kia quyết chẳng phụ con cũng như con  đã chẳng phụ mẹ.”  Lòng hiếu thảo của Vũ Nương  còn thể hiện lúc bà mất, nàng đã hết lời thương xót, ma chay chu tất “như với cha mẹ đẻ”.

- Khi Trương Sinh trở về, nghe lời con trẻ, đã hồ đồ kết tội Vũ Nương thất tiết. Trong nỗi đau đớn tuyệt vọng, từng lời đối thoại, độc thoại của nàng cũng đã bộc lộ vẻ đẹp tâm hồn của một người phụ nữ đoan chính. Lời thoại thứ nhất, ta thấy nàng mong muốn giữ lại hạnh phúc sắp tan vỡ qua giọng tha thiết bộc bạch tấm lòng “ Cách biệt ba năm giữ gìn một tiết… xin chàng đừng một mực nghi oan cho thiếp”. Lời thoại thứ ba thể hiện quyết định quyên sinh để chứng minh tấm lòng trong sạch “ thiếp có “. Điều này cho thấy cái chết của nàng không phải nông nổi mà có sự chỉ đạo của lí trí, cái chết của con người có lòng tự trọng, quyết liệt bảo toàn danh dự.

- Và cả lúc nàng sống ở thủy cung mà vẫn còn nhớ về gia đình, nàng không thể trở về trần thế vì mang ơn của Linh Phi -> đó là biểu hiện cho tấm lòng vị tha, lối sống  thủy chung, ân nghĩa  

Nghệ thuật ( quan trọng): 

 Nguyễn Dữ đã đạt sự thành công về nghệ thuật khi khắc họa vẻ đẹp phẩm chất của Vũ Nương là đã đặt nhân vật Vũ Nương vào nhiều hoàn cảnh khác nhau để làm bật lên phẩm chất của nàng. Lời thoại và lời tự bạch của nhân vật được sắp xếp đúng chỗ làm câu chuyện trở nên sinh động, góp phần khắc họa tâm lí và tính cách nhân vật. Vẻ đẹp tâm hồn của Vũ Nương là tiêu biểu cho vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ thời phong kiến đáng trân trọng ca ngợi, nên người đọc càng thương cảm cho số phận bi thương của nàng do những quan niệm bất công “ chồng chúa vợ tôi”, “ phu xướng, phụ tùy” của chế độ phong kiến.

III. Kết bài:


Nhắn tin cho tác giả
Bùi Thị Mỹ Hạnh @ 05:35 30/10/2016
Số lượt xem: 657
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến